Thánh Tông Đồ



Cuộc hành trình truyền giáo của Thánh Phaolô

1. Hành trình truyền giáo lần đầu.

Chúng ta nghe toàn bộ câu chuyện về cuộc hành trình này trong sách Tông đồ Công vụ chương 13 câu 1, đến chương 14 câu 27.

Mọi chuyện bắt đầu từ Antiokia.

Chi tiết ghi lại tại câu TđCv 13, 1-3

Trong Hội Thánh tại An-ti-ô-khi-a, có những ngôn sứ và thầy dạy, đó là các ông Ba-na-ba, Si-mê-ôn biệt hiệu là Đen, Lu-ki-ô người Ky-rê-nê, Ma-na-en, bạn thời thơ ấu của tiểu vương Hê-rô-đê, và Sao-lô.2

Một hôm, đang khi họ làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo: "Hãy dành riêng Ba-na-ba và Sao-lô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm. 3 Bấy giờ họ ăn chay cầu nguyện, rồi đặt tay trên hai ông và tiễn đi.

Chúng ta lưu ý có nhiều thành phố Antiokia được nhắc tới trong những hành trình truyền giáo của Phaolô! Một Antiokia tại Syria. Còn Antiokia thứ hai nằm tại Thổ Nhĩ kỳ

Antiokia ở Syria được hoàng đế Seleucus I Nicator thành lập khoảng năm 300 trước Công Nguyên. Ông đặt tên thành theo tên của Vua Cha và cũng của hoàng tử Antiochus.

Antiokia (nước Syria) nằm trên bờ sông Orontes. Cách Giêrusalem khoảng 450 cây số về phía Bắc, và cách bờ biển Địa Trung hải 45 cây số, nằm ngay giao điểm hai rặng núi Lebanion và Taurus.

Seleucus còn thành lập chừng khoảng 15 thành phố khác khắp Tiểu Á đều mang cùng tên Antiochus. Để phân biệt chúng, người ta thường gọi thành phố Antiokia tại Syria này là “Antiokia bên bờ sông Orontes”.

Ngày nay, Antiokia ở Syria này là một thành phố lớn với chừng 500 ngàn dân, một trung tâm thương mại phồn thịnh, nơi giao lưu nhiều nguồn văn hóa: Hy lạp. La mã, Do thái, Ả rập, và Ba tư.

Trước hết hai vị, Phaolô và Barbabas, từ Antiokia xuống thuyền sang đảo Cypros. Hai vị tới đảo Cypros, giảng trong hội đường Do thái tại Salamina, “Vậy, được Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xê-lêu-ki-a (Antiokia), rồi từ đó đáp tàu đi đảo Sýp.5 Đến Xa-la-min, hai ông loan báo lời Thiên Chúa trong các hội đường người Do-thái. Có ông Gio-an giúp hai ông. “ ( T đCv 13,4-5)

Đảo Cypros, còn gọi là đảo Chypre (tên gọi theo tiếng Pháp. VN phiên âm thành “Shíp”) Sỡ dĩ đảo này có tên là Cypros, có nghĩa là “đồng”,vì ngày xưa người ta tìm ra được mỏ đồng trên đảo này, và đã khai thác đồng từ thời cổ.

Tuy Paphos là thủ phủ của đảo quốc Síp (Cypros) nhưng Salamis là một thanh phố quan trọng hơn. Salamis nằm trên bờ biển phía đông của vùng bình nguyên trung phần đảo Sip, Nơi đây, có nhiều cộng đồng Do thái sinh sống từ rất xa xưa, trước cả khi người Lamã tới chiếm đóng

Sau đó hai vị đi dọc theo duyên hải phía nam của đảo, tới cảng Paphos, nơi có nhà của thống đốc Sergius Phaolô. Tại nhà thống đốc này, hai vị gặp một người phù thuỷ, tên Do thái là “Bar Giêsu” (có nghĩa là “con của Giêsu”) còn tên Hy lạp là Elyma!

Phaolô la mắng ông phù thuỷ này một trận và ra lệnh cho ông mù mắt. Ông ta bị mù ngay lập tức. Thống đốc Sergio Paulus tin theo đạo !

Cảng Paphos, cũng là thủ phủ của đảo quốc Síp (Cypros/Chypre) nằm tậm mỏm phía tây của đảo, cách Salamis chừng 150 cây số . Nơi đây có cơ quan hành chánh tỉnh của người Roma. Vì thế mới có dinh của quan thống đốc Sergius Paulus! Tại đây còn có một đền thờ nổi tiếng, có tượng nữ thần giống nữ thần Aprodite của Hy lạp . Vào khoảng thế kỷ thứ tư, một trận động đất lớn đã phá bình địa thành này .

Sau biến cố này, Phaolô trở thành người quan trọng không còn đứng sau Barbabas, mà luôn được Luca nhắc đến trước tiên.

Kế tiếp, hai ông vượt biển đến Perge xứ Pamphilia, nghĩa là hai ngài trở vào đất liền, khoảng 8 dặm cách cửa sông Cestrus, Thổ Nhĩ Kỳ. “Từ Pa-phô, ông Phao-lô và các bạn đồng hành vượt biển đến Péc-ghê miền Pam-phy-li-a. Nhưng ông Gio-an bỏ các ông mà về Giê-ru-sa-lem. ‘ (TđCv 13. 13)

Perga là thủ phủ của miền Pamphylia, một tỉnh quan trong ven biển của Tiểu Á (Thổ Nhĩ kỳ) nằm giữa hài tỉnh Lycia và Cilicia. Perga nằm sâu trong đất liền 8 cây số và nằm phía đông, cách hải cảng Attalia 18 cây số.

Thành phố Perga mang ảnh hưởng văn minh Hy lạp với nhiều đền đài được trang trí với hoa văn rực rỡ. Cứ xét theo những di tích còn sót lại, thì trong số những thành phố Phaolô đã đi qua thì Perga là thành phố rực rỡ hạng nhì, chỉ thua Ephêsô.

Lúc này, Gioan Marcô, anh em họ của Barnabas, rời bỏ đoàn, một mình trở về Giêrusalem. Dường như vì nhớ nhà, nhớ Giêrusalem, rồi Phaolô bị bệnh buộc cả đoàn phải thay đổi lộ trình, Nhưng lý do chính hình như từ sau chặng này, Barnabas không còn là người lãnh đạo đoàn, mà vị thế đã chuyển sang Phaolô

Còn lại hai vị, ngược xuôi vùng cao nguyên đầy đồi núi xứ Pisidia, nhiều sơn tặc và thác ghềnh cheo leo. Mục tiêu của hai vị là Antiokia, một thuộc địa Lamã, cách Perge bảy ngày đường. “Còn hai ông thì rời Péc-ghê tiếp tục đi Antiôkhia miền Pi-xi-đi-a.” (TđCv 13,14)

Chúng ta lại gặp một thành phố Antiokia thứ hai, nhưng là ở miền Phrygia, gần Pisidia (Thổ nhĩ kỳ) Seleucus I Nicator thành lập thành này khoảng năm 281 trước Công Nguyên nằm cách thành phố Perga 150 cây số về phía Bắc, trên một vùng cao nguyên có nhiều hồ. Thành phố Antiokia quan trọng này nằm án ngữ trên con đường giao thương giữa Ephêsô và vùng Lưỡng hà địa ( sông Euphrates). Dân cư là một tập hợp gồm nhiều sắc dân đổ về: Roma, Hylạp. Do thái,và người Phrygia .

Tại Antiokia, Phaolô có một bài giảng quan trọng. trước một thính giả gồm cả người Do thái và ngươì Ngoại. Ngài bắt đầu nói đến sứ mạng của Israel, về Đấng Thiên sai.

Xin nhắc lại rằng: Thời Chúa Giêsu và thời Phaolô đi rao giảng, thì danh từ “Dân Ngoại”chỉ tất cả mọi người không phải là người Do thái. Như thế, vào thời đó người La mã, Hy lạp, Batư, ẢRập, Ai cập ... đều là “dân Ngoại” đối với người Do thái, Nó có nghĩa người “ngoài đạo Do thái”, người không tin vào “Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacob” .

Ban đầu, Phaolô và các Tông đồ chỉ rao giảng cho người Do thái, trong các hội đường mà thôi.

Các Ngài rao giảng cái gì ? Nôi dung của những điều rao giảng ban đầu, (gọi là kerygma) chỉ là biến cố sống lại của Đức Giêsu . Đại khái các Ngài công bố như sau: “Đức Giêsu, rabbi người làng Nagiareth, mà các ông đã giết trên thập tự. Ngài đã sống lại vào ngày thứ ba. Chúng tôi là những người làm làm chứng đây. Vì sau khi sống lại. Ngài đã hiện ra cho chúng tôi.!”

Xem bài giảng hùng hồn cho người Do thái trong TTĐCv 13, 16-41 ;

Ông Phao-lô đứng dậy, giơ tay xin mọi người lưu ý, rồi nói:

17 Thiên Chúa của dân Ít-ra-en đã chọn cha ông chúng ta, đã làm cho dân này thành một dân lớn trong thời họ cư ngụ ở đất Ai-cập, và đã giơ cánh tay mạnh mẽ của Người mà đem họ ra khỏi đó.18 Và trong thời gian chừng bốn mươi năm, Người đã nuôi dưỡng họ trong sa mạc.19 Rồi Người đã tiêu diệt bảy dân tộc ở đất Ca-na-an và ban đất của chúng cho họ làm gia sản:20 tất cả đã xảy ra trong khoảng bốn trăm năm mươi năm.

Sau đó, Người ban cho họ các vị thủ lãnh cho đến thời ngôn sứ Sa-mu-en.21 Rồi họ đòi có vua, Thiên Chúa ban cho họ ông Sa-un, con ông Kít thuộc chi tộc Ben-gia-min, trị vì bốn mươi năm.22 Sau khi truất phế vua Sa-un, Người đã cho ông Đa-vít xuất hiện làm vua cai trị họ.

Người đã làm chứng về ông rằng: Ta đã tìm được Đa-vít, con của Gie-sê, một người đẹp lòng Ta và sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta.23 Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Ít-ra-en một Đấng Cứu Độ là Đức Giê-su.24 Để dọn đường cho Đức Giê-su, ông Gio-an đã rao giảng kêu gọi toàn dân Ít-ra-en chịu phép rửa tỏ lòng sám hối.25 Khi sắp hoàn thành sứ mệnh, ông Gio-an đã tuyên bố: "Tôi không phải là Đấng mà anh em tưởng đâu, nhưng kìa Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi dép cho Người.

26 "Thưa anh em, là con cái thuộc dòng giống Áp-ra-ham, và thưa anh em đang hiện diện nơi đây, là những người kính sợ Thiên Chúa, lời cứu độ này được gửi tới chúng ta.27 Dân cư thành Giê-ru-sa-lem và các thủ lãnh của họ đã không nhận biết Đức Giê-su; khi kết án Người, họ đã làm cho ứng nghiệm những lời ngôn sứ đọc mỗi ngày sa-bát.28 Tuy không thấy Người có tội gì đáng chết, họ vẫn đòi Phi-la-tô xử tử.29 Sau khi thực hiện tất cả mọi điều Kinh Thánh chép về Người, họ đã hạ Người từ trên cây gỗ xuống và mai táng trong mồ.30 Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết.31 Trong nhiều ngày, Đức Giê-su đã hiện ra với những kẻ từng theo Người từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân.

32 "Còn chúng tôi, chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này: điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta,33 thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Đức Giê-su sống lại, đúng như lời đã chép trong Thánh vịnh 2: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con.

34 "Về việc Người đã làm cho Đức Giê-su từ cõi chết sống lại, không còn phải hư nát nữa, thì Người phán thế này: Ta sẽ ban cho các ngươi những ơn lộc đã hứa cho Đa-vít.35 Vì vậy ở chỗ khác, lại có lời rằng: Ngài sẽ không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát.36 Thế mà vua Đa-vít, sau khi phục vụ ý định của Thiên Chúa trong đời ông, đã an nghỉ, đã được chôn cất bên cạnh tổ tiên và phải hư nát.37 Còn Đấng mà Thiên Chúa đã cho trỗi dậy thì không phải hư nát.

38 "Vậy thưa anh em, xin biết cho điều này: chính nhờ Đấng ấy mà ơn tha tội được loan báo cho anh em; và trong khi anh em không thể được giải thoát khỏi tội lỗi mà trở nên công chính nhờ tuân giữ Luật Mô-sê,39 thì nhờ Người, mọi kẻ tin đều được nên công chính.

40 "Vậy hãy coi chừng kẻo lại xảy ra điều đã nói trong sách Các Ngôn Sứ:41 Hỡi những kẻ khinh mạn, hãy xem, hãy kinh ngạc sững sờ và biến mất đi! Vì chính vào thời các ngươi, Ta sắp làm một việc, một việc mà các ngươi sẽ chẳng tin, nếu có ai kể lại cho các ngươi.

Sau bài giảng này, mà thánh Lucas ghi lại gần như trọn vẹn ý chính, thì nhiều người tin theo, rất nhiều người là dân Ngoại. Sách Tông đồ Công vụ nói là “gần như cả thành đến nghe giảng” : “Ngày sa-bát sau, gần như cả thành tụ họp nghe lời Thiên Chúa.”

Dĩ nhiên người Do thái ghen tức : “Thấy những đám đông như vậy, người Do-thái sinh lòng ghen tức, họ phản đối những lời ông Phao-lô nói và nhục mạ ông.” (TđCv 13, 44-47)

Hai vị lưu lại Antiokia khá lâu cho đến lúc “Lời Chúa lan tràn khắp miền ấy.” (xem TđCv 13, 49),

Cho đến khi người Do thái bắt đầu kiếm chuyện, họ xúi cả người Ngoại chống lại hai vị khiến hai vị phải sang Iconiô: ”Người Do-thái sách động nhóm phụ nữ hượng lưu đã theo đạo Do-thái, và những thân hào trong thành, xúi giục họ ngược đãi ông Phao-lô và ông Ba-na-ba, và trục xuất hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ.51 Hai ông liền giũ bụi chân phản đối họ và đi tới I-cô-ni-ô. “ ( TđCv 13, 49)

Icôniô cách Antiokia chừng 100 cây số, và cũng nằm torng vùng cao nguyên miền Nam Thổ nhĩ kỳ. Ngày này Iconiô mang tên Konya.

Tại đây, các vị cũng bị người Do thái sách nhiễu. Các Ngài phải tạm lánh sang thành Lystra, cách đó 18 dặm.

Lystra biến thành một thương phố của người Lamã vào khoảng năm 6 trước Công Nguyên. Dân chúng nghèo, ít học. Đa số là người Lycaonie. Có ngôn ngữ riêng. Họ không nói tiếng hy lạp hay la mã.Vì thế tại thành phố Lystra này, có một biến cố suýt làm Phaolô mất mạng.

Tại Lystra có một người bị què. Thấy ông què có lòng tin, Phaolô làm phép lạ chữa ông khỏi. Ông đi đứng bình thường. Dân Lystra tưởng hai vị là thần linh đội lốt phàm, xì lồ xì lào bằng tiếng địa phương, định dâng hoa tổ chức tế bò tế dê cho hai vị.

Hai vị khi hiểu ra được sự tình, thì hết hồn, phải xé áo trước mặt họ mà la to phân bua: "Hỡi các bạn, các bạn làm gì thế này? Chúng tôi đây cũng chỉ là người phàm, cùng thân phận với các bạn.” (TđCv 14, 15).

Đám dân chúng Lystra thất vọng. Thần mà không vâng lời dân chúng thì dân chúng bắt thần phải vâng lời vậy. Những người Do thái không tin và cả người Ngoại từ Icôniô, cũng tìm tới đây, đứng lẫn lộn trong vụ này. Nhân đó họ xúi và thuyết phục được đám đông Lystra, ném đá các Ngài. “ Bấy giờ có những người Do-thái từ An-ti-ô-khi-a và I-cô-ni-ô đến, thuyết phục được đám đông. Họ ném đá ông Phao-lô rồi lôi ông ra ngoài thành, vì tưởng ông đã chết.20 Nhưng khi các môn đệ xúm lại quanh ông, ông đứng dậy và vào thành. Hôm sau, ông trẩy đi Đéc-bê cùng với ông Ba-na-ba. “ ( TđCv 14,19-20)

Họ tưởng Ngài đã chết nên bỏ đi. Nhờ vậy mà Ngài thoát chết. Khi tỉnh lại Ngài trốn sang Derbé cách đó 60 cây số, ngay biên giới vùng Galatia .

Sau khi rao giảng ở đây thì các Ngài tuần tự, đi ngược trở về các thành đã đi qua, Lystra Icôniô, Antiokia, qua Pisiđia, Pamphylia, Perge. Về lại tới đâu, các Ngài củng cố đức tin cho những tân tòng ở đó, truyền chức thêm các giám mục ( Kỳ mục ) coi sóc các giáo đoàn tân lập, kể lai những chuyện trở lại ở các nơi.

Xuống tới cảng Attalia, từ cảng này các ngài đi thuyền về lại Antiokia bên Syria, kết thúc một chuyến đi truyền giáo đầu tiên.

“Sau khi đã loan Tin Mừng cho thành ấy và nhận khá nhiều người làm môn đệ, hai ông trở lại Lýt-ra, I-cô-ni-ô và An-ti-ô-khi-a.22 Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ, và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin. Hai ông nói: "Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa."23 Trong mỗi Hội Thánh, hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục, và sau khi ăn chay cầu nguyện, hai ông phó thác những người đó cho Chúa, Đấng họ đã tin.

24 Hai ông đi qua miền Pi-xi-đi-a mà đến miền Pam-phy-li-a,25 rao giảng lời Chúa tại Péc-ghê, rồi xuống Át-ta-li-a.26 Từ đó hai ông vượt biển về An-ti-ô-khi-a, là nơi trước đây các ông đã được giao phó cho ân sủng của Thiên Chúa để làm công việc vừa mới hoàn thành.” ( TđCv 14, 21-26)

Toàn bộ chuyến đi kéo dài chừng ba năm, từ khoảng năm 45 đến năm 49.

Các thành phố đã ghé qua trong chuyến đi đầu tiên này :

Vòng đi:

Khởi hành từ Antiokia tại Syria:

1- Salamis đảo Cypro
2- Paphos đảo Cypros
3- Perga (Tiểu Á, Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay)
4- Antiokia (Tiểu Á)
6- Derbé

Lượt về:


7- Iconium
8- Antiokia
9- Cảng Attalia
Về lại Antiokia tại Syria


Hình minh hoạ chuyến đi truyền giáo đầu tiên:

Xin click vào đây để xem chi tiết


Công Đồng Chung thứ nhất tại Giêrusalem


Sau chuyến đi rao giảng, các Tông đồ gặp ngay một vấn đề hóc búa. Có người Do thái nghe các Tông đồ rao giảng mà tin theo, nghĩa là tin vào Chúa Giêsu. Nhưng cũng có cả, và nhiều nữa là đàng khác, những người Ngoại, cũng tin vào Chúa Giêsu.

Chúng ta đã hiểu, trong Kinh Thánh, và đối với người Do thái, khi họ nói “Dân Ngoại” (Gentiles) là họ muốn ám chỉ đến “tất cả những ai không phải là Do thái. Vậy người Lamã, Hy lạp, Batư, Ấn độ, Phi châu, Tàu, Lào, Miên,....và Việt Nam đều là dân Ngoại !

Người Do thái tự hào chỉ có họ là “Dân”, “Dân của Chúa” (“am segullah”). Còn mọi sắc dân khác trên toàn thế giới đều là “Ngoại”, là người ngoài, hay Dân Ngoại !

Chúa Giêsu, vốn là một người Do thái, khi chết đi rồi sống lại, Ngài đã lập ra một tôn giáo mới, bắt nguồn từ Do thái giáo, nhưng khác hẳn.

Và khi các môn đệ của Ngài đi rao giảng, chiêu mộ tín hữu tin vào tôn giáo mới ấy của Chúa Giêsu thì, những tín hữu mới này, những người tin vào tôn giáo mới này, có buộc phải giữ những tập tục cũ mà chính Chuá Giêsu, vì là ngươì Do thái, vẫn giữ hay không ?

Chẳng hạn như bị cắt bì. Ngày thứ Bảy không được đi đâu quá 1000 thước. Phải giữ ngày thứ Bảy (Sabbath) nghĩa là từ lúc mặt trời lặn chiều thứ Sáu đến lúc mặt trời lặn chiều thứ Bảy (- đó là cách tính ngày của người Do thái -) không được làm việc. Đứng lên đứng xuống đi tới bật nút TV xem cũng là làm việc ! Bật nút nồi cơm điện cũng là làm việc !

Bà nào chỉ cần nấu cơm khê thôi, hay đầu tóc hôi hám, thì ông chồng Do thái có quyền viết một tờ giấy nêu rõ những lý do ấy, rồi “tiên bố” ly dị: ”Này bà, hãy xê ta ra kẻo khốn mà chớ “ ! Không được ăn thịt heo. Không được ăn tiết canh, dù là tiết canh vịt, hay tiết canh chó, hay tiết canh thỏ !

Sáu trăm mười lăm (615) điều luật như thế, mà hễ là ngươì Do thái, thì phải tuân thủ chi li! Thậm chí thánh Phêrô nói đó là gánh nặng - Ngài gọi đó là cái gông, cái ách, giống như cái ách quàng vào cổ con bò con trâu cho nó kéo cày! - mà chính người Do thái cũng khó mà giữ !”sao anh em lại thử thách Thiên Chúa, mà quàng vào cổ các môn đệ một cái ách mà cả cha ông chúng ta lẫn chúng ta đã không có sức mang nổi?” (TđCv 15,10)

Thế thì những người tín hữu đầu tiên, gốc Do thái, mà là Do thái tại Giuđêa, nghĩa là Do thái vẫn hiện đang sinh sống tại quê nhà chứ không phải là những “Do kiều” (người Do thái sinh sống ở nước ngoài), từ Giêrusalem, lên Antiokia gặp các Tông đồ và đề nghị phải buộc những người Ngoại, khi trở lại, cũng phải bị “cắt bì”, nghĩa là theo nguyên tắc, cũng phải trở thành giống như Do thái, như họ!

Phaolô và Barbabas từ chối, không muốn theo ý kiến này.

Hai ngài đề nghị phải lên Giêrusalem, gặp các Tông đồ bàn hỏi về chuyện “tế nhị này!

Hẳn các Ngài thấy được vấn đề khó khăn. Người ta muốn theo đạo mà bắt phải cắt da đầu “chim”, như mọi người đàn ông Do thái, thì hẳn sẽ ngại ngùng mà không dám theo ! Họ muốn theo đạo chứ có muốn trở thành Do thái đâu !

Vì thế các vị kéo nhau lên Giêrusalem, gặp các Tông đồ.

Đó là Công đồng chung đầu tiên của Giáo Hội, họp khoảng năm 50 .

Trong Công đồng này, Phaolô và Barnabas, đứng về một phía, đại diện cho tín hữu tại Antiokia.

Còn thánh Phêrô, lúc bấy giờ hùng hồn :

"Thưa anh em, anh em biết: ngay từ những ngày đầu, Thiên Chúa đã chọn tôi giữa anh em, để các dân ngoại được nghe lời Tin Mừng từ miệng tôi và tin theo.8 Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi tâm can đã chứng tỏ Người chấp nhận họ, khi ban Thánh Thần cho họ cũng như đã ban cho chúng ta.9 Người không phân biệt chút nào giữa chúng ta với họ, vì đã dùng đức tin để thanh tẩy lòng họ.10 Vậy bây giờ, sao anh em lại thử thách Thiên Chúa, mà quàng vào cổ các môn đệ một cái ách mà cả cha ông chúng ta lẫn chúng ta đã không có sức mang nổi?11 Vả lại, chính nhờ ân sủng Chúa Giê-su mà chúng ta tin mình được cứu độ, cùng một cách như họ." (TđCv 15, 7-11)

Như vậy là bênh cho dân Ngoại, nghĩa là đề nghị khi người Ngoại trở lại, thì không bắt họ phải bị cắt bì !

Thánh Giacôbê cũng ủng hộ lập trường này và đề nghị thêm! "Vì vậy, phần tôi, tôi xét là không được gây phiền hà cho những người gốc dân ngoại trở lại với Thiên Chúa,20 nhưng chỉ viết thư bảo họ kiêng những thức ăn ô uế vì đã cúng cho ngẫu tượng, tránh gian dâm, kiêng ăn thịt loài vật không cắt tiết và kiêng ăn tiết.” (TđCv 14, 19-21) Nghĩa là Giacôbê tuy đề nghị không bắt người Ngoại cắt bì nhưng buộc họ kiêng cữ những thói tục xấu, không hợp theo lệ Do thái như: ”kiêng những thức ăn ô uế vì đã cúng cho ngẫu tượng, tránh gian dâm, kiêng ăn thịt loài vật không cắt tiết và kiêng ăn tiết.” Điều này nhắm vào các tín hữu vùng Syria, và Cilicia !

Nếu điều này mà áp dụng cho Việt Nam thì các giáo hữu Việt Nam không được ăn tiết canh vịt hay tiết canh chó rồi !

Điều thú vị là những điều buộc kiêng cữ này, không phải vì luật Môsê (luật Do thái ) buộc như thế, nhưng là do Thánh Thần! Điều này cho thấy càng ngày, những người tin theo Chúa Giêsu, càng ngày càng có não trạng xa dần ảnh hưởng của Do thái giáo !

Chi tiết này khiến cho thế giới Lamã, những người vốn xa lạ với Do thái và những tập tục của Do thái giáo,dễ dàng theo đạo hơn !

Như vậy là rất trúng ý với Phaolô !

Sau đó Công đồng sai vài sứ giả mang quyết định của Công Đồng, viết trong một bức thư về Antiokia thông báo cho các tin hữu ở đó: “Vì thế, chúng tôi đã đồng tâm nhất trí quyết định chọn một số đại biểu, và phái họ đến với anh em, cùng với những người anh em thân mến của chúng tôi là ông Ba-na-ba và ông Phao-lô,26 những người đã cống hiến cuộc đời vì danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.27 Vậy chúng tôi cử ông Giu-đa và ông Xi-la đến trình bày trực tiếp những điều viết sau đây:28 Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này:29 là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt rồi. Chúc anh em an mạnh."

Bức thư nói rõ : “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định” .

Công đồng chung thứ nhất này được miêu tả trong TđCv chương 15 và thư Galát chương 2 câu 3-4

Nhưng hệ quả của Công đồng chưa chấm dứt ở đây . Nếu những quyết định trên áp dụng cho những tín hữu ngươì ngoại trở lại Antiokia, Syria, thì những người Do thái gốc tại quê hương thì sao? Khi họ trở lại họ có còn bị bó buột phải giữ luật Môse nữa không? Ngoài chuyện kiêng ăn kiêng uống này ra, thì còn rất nhiều điều luật khác nữa? Như luật rửa tay trước khi ăn, luật giữ ngày Sabbath?

Đây chính là điều mà sau này hai vị Phêrô và Phaolô phải to tiếng với nhau một lần.

Đúng ra Phaolô phê bình Phêrô, không “trước sau như một”. Vì Phêrô đã không muốn mất lòng người Do thái “dòng” nên Ngài cũng kiêng ăn cữ uống dù đang tiếp xúc và đang ở giữa các tín hữu Ngoại trở lại. Làm thế, những người tân tòng này sẽ ngại ngùng mà bắt chước theo Ngài, mà kiêng cữ giống như dân Do thái gốc! Như thế lại tự mình đi ngược lại những quyết định của Công Đồng Giêrusalem. Họ làm thế vì là làm theo thánh Phêrô !

Phêrô không đủ kiên quyết để canh tân.

Phaolô thấy thế, “xì nẹt” cho một trận. chi tiết này có kể trong Thư Galat 2,11-20 như sau : “Nhưng khi ông Kê-pha đến An-ti-ô-khi-a, tôi đã cự lại ông ngay trước mặt, vì ông đã làm điều đáng trách.12 Thật vậy, ông thường dùng bữa với những người gốc dân ngoại trước khi có những người của ông Gia-cô-bê đến; nhưng khi những người này đến, ông lại tránh né và tự tách ra, vì sợ những người được cắt bì.13 Những người Do-thái khác cũng theo ông mà giả hình giả bộ, khiến cả ông Ba-na-ba cũng bị lôi cuốn mà giả hình như họ.

14 Nhưng khi tôi thấy các ông ấy không đi đúng theo chân lý của Tin Mừng, thì tôi đã nói với ông Kê-pha trước mặt mọi người: "Nếu ông là người Do-thái mà còn sống như người dân ngoại, chứ không như người Do-thái, thì làm sao ông lại ép người dân ngoại phải xử sự như người Do-thái? "

Chúng ta thấy Phaolô là ghê chưa ! Dám “la” cả Đức Giáo Hoàng tiên khởi, đại diện Chúa Giêsu ở trần gian này, là “giả hình” !

Phaolô đưa ra lý luận đanh thép:"Nếu ông là người Do-thái mà còn sống như người dân ngoại, chứ không như người Do-thái, thì làm sao ông lại ép người dân ngoại phải xử sự như người Do-thái? “

Giáo hoàng Phêrô chịu một phép, không nói lại được lời nào!


Nguyễn Đức Khang